Giới thiệu chung

Cây lá kim là một nhóm lớn thuộc ngành cây hạt trần có thân gỗ. Cây hạt trần khác với cây hạt kín (thực vật có hoa hay cây lá rộng) là cây không ra hoa mà chỉ tạo nón, nón phát triển thẳng thành quả và hạt.

Cây lá kim thường có thân gỗ cứng khó mục, sinh trưởng đỉnh mạnh nên thường có tán cây dạng nón (tưởng tượng như cây thông nô en vậy). Cây lá rộng thì các cành bên phát triển đồng đều nên cây mọc lòa xòa. Các cây lá kim có lá thường mảnh, nhỏ. Những đặc điểm này làm cho cây lá kim rất thích hợp cho việc tạo dáng, tạo thế, tạo tán.

Người ta thường nghĩ cây lá kim chỉ sống tốt ở vùng lạnh nhưng không phải. Ở Việt Nam nhiều loài lá kim sống rất tốt và là những loài cây chiếm kỷ lục về mọi mặt trong hệ thực vật:
– Cây cao nhất: cây Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) ở Lào Cai cao trên 50m.
– Cây to nhất: những cây Pơ mu (Fokienia) hay Sa mu (Cunninghamia) cổ có đường kính trên 2m.
– Cây già nhất: tuổi những cây lá kim, nhất là họ Thông có thể tới hàng trăm năm.

Tên gọi các loài lá kim

Tên gọi cây lá kim thường gặp là tùng, thông, bách, sam, nhưng tên tiếng Việt hay tiếng địa phương nói chung ít chính xác, hay chỉ chính xác trong những vùng, những nhóm người nhất định. Tốt hơn vẫn là dùng tên tiếng La tinh.
Từ “Thông” thường dùng để chỉ cụ thể nhóm cây lá kim chi Pinus, có lá mọc thành cụm, lá nhọn, mảnh như kim. Cụm lá có từ 2 đến 5 lá. Càng nhiều lá là những cây càng ưa lạnh.
Từ “Sam“, tiếng Tàu cũng có nghĩa là Thông, nhưng ở Việt Nam thường dùng chỉ các loài họ thông (Pinaceae), nhưng có lá dẹt như Thiết sam (Tsuga), Thiết sam giả (Pseudotsuga), Vân sam hay Lãnh sam (Abies), Du sam (Keteleeria).
Từ “Bách” nói đến các loài tương tự như Bách tán, tức là họ Hoàng đàn (Cupressaceae) như Bách tán Đài Loan (Taiwania), Bách vàng (Xanthocyparis), Bách xanh (Calocedrus).
Từ “Tùng” dùng chung gọi các loài cây lá kim, nhiều khi cả cây lá rộng mọc dạng tán hình nón (tùng cối?). Hiểu hẹp hơn thì từ “tùng” dùng cho cây lá kim họ Kim giao (Podocarpaceae) như Hồng tùng (Dacrydium), Bạch tùng (Podocarpus imbricartus), Tùng la hán (Podocarpus spp).
Còn có từ “mu” hay “mộc” dùng cho một số loài cây họ Hoàng đàn như Pơ mu (Fokienia), Sa mu – Sa mộc (Cunninghamia).
Vài dòng về tên gọi cây lá kim để các bạn thấy sự phong phú các loài cây này ở Việt Nam. Người chơi có không ít sự lựa chọn, miễn là phải hiểu và biết mình định chọn chơi cây gì.

Một số loài cây lá kim “được quan tâm”

Tổng cộng Việt Nam có 29 loài cây lá kim, nhưng ở đây mình chỉ nêu ra vài loài hay được quan tâm bởi giới cây cảnh (hoặc giới săn cây quý!!).

Thông 5 lá Việt Nam

Ở Việt Nam thông 5 lá có 2 loại.
Một loại là Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis Chen) gặp ở miền Bắc, trên các đỉnh núi đá ở độ cao trên 1500m so với mặt biển. Vì mọc trên đá nên cây mọc dang gần giống như cây bonsai, tức là thành thế, thành dáng thật sự (xem ảnh đầu trang). Có khi ngắm những cây thông đá tự nhiên này các bạn cũng sẽ có cảm hứng để làm cấy thế, chưa cần mang cây về trồng.

Thông Pà Cò khó sống, ưa khí hậu lạnh. Do đó mấy bạn nhà giàu miền xuôi đừng nuôi ý định đánh cây rừng về bán làm gì. Tuy nhiên, đây là loài cây bonsai tiềm năng của Việt Nam. Để lấy giống, tốt nhất là giâm cành thật nhiều rồi ghép vào gốc thông nhựa (Pinus merkusii).

thông 5 lá pà cò
Loại Thông năm lá thứ hai gọi là Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis de Ferre), mọc trên núi đất, ở độ cao khoảng 2000m. Mọc trên đất nên cây to, cao, thẳng. Cây gặp trên các đỉnh núi của Tây Nguyên. Cách thuần dưỡng thông Đà Lạt tốt nhất cũng là ghép trên gốc thông nhựa.
Cả hai loài thông năm lá trên đều là loài đặc hữu hẹp (phân bộ hạn chế), chỉ gặp ở Việt Nam, hoặc ở một số địa điểm lân cận ở Lào hay Vân Nam – Quảng Tây Trung Quốc.

thông 5 lá đà lạt

Bài liên quan:
Giâm cành cây lá kim
Ghép cây lá kim
Cành lá kim đã cắt cần gì để sống?
X