Theo triết học Ấn Độ, thân xác con người tổ hợp nên từ hai yếu tố: Ha, mặt trời hay dương tính; Tha, mặt trăng hay âm tính. Hatha yoga là phương pháp tập để điều hòa âm dương, quân bình âm dương, từ đó giúp cho con người đạt được các yêu cầu sống khỏe, sống trẻ và sống lâu.

Mặc dù cùng nhằm một mục tiêu hạn chế và cụ thể là sức khỏe, trên cả hai mặt thể xác và tinh thần, Hatha Yoga có điểm khác những phương pháp luyện tập thể dục thông thường, như nước khác với lửa. Nếu như các phương pháp thể dục đều nhằm rèn luyện, phát triển cơ thể, Hatha Yoga, với tư cách là một kỹ thuật phản lực (technique de réaction) lại ức chế, lại cưỡng bức, lại câu thúc thân thể trong gông cùm của những tư thế bất động kéo dài càng lâu càng tốt. Hatha Yoga vươn tới cái bất động, ở đó nó sẽ thu hoạch cho người tập được hơn nhiều so với những gì mà sự vận động của các phương pháp tập thể dục khác có thể đem lại. Ở đây ta gặp sự minh họa cho một nguyên lý trong Dịch học: “Tĩnh trung hữu động”. Cái tĩnh nhất chính lại là cái động nhất. Khi con quay quay nhanh nhất chính là lúc dường như nó bất động.

Hatha yoga thường được chia làm 3 phần:

  1. Gồm 12 tư thế cầu nguyện làm kế tiếp nhau lúc mặt trời mọc và lặn.
  2. Gồm 84 tư thế, hay 84.000, thậm chí cả đến 84.000.000 tư thế theo truyền thuyết khi thần Shiva siêu đẳng giảng dạy Yoga cho thế nhân.
  3. Cao nhất, khó nhất và quan trọng nhất, bao gồm các phép thở và vận động những bộ phận, những quan năng của cơ thể mà ta không có, hay đã mất đi trong quá trình tiến hóa của ý thức, cái khả năng kiểm soát, sai khiến bằng ý chí, chỉ còn được điều khiển bởi hệ thần kinh thực vật.

Trước khi đề cập đến các bài tập thực hành, ta cần phải khẳng định một số yêu cầu.

Cuộc sống xã hội đã huấn tập các hành vi cử chỉ và suy nghĩ của chúng ta trong một màng lưới tập quán dù vô ý thức hay có ý thức, ta quen hành xử theo kiểu rập khuôn trong trại lính. Yoga vốn là trường học siêu đẳng của ý niệm Ngã và sự triển khai, giải tỏa con người khỏi sự căng thẳng thường xuyên của đời sống hiện đại cùng các hệ lụy đối với thể xác và tâm lý. Do đó người luyện Yoga phải hiểu rằng phong cách tập Yoga quan trọng hơn bản thân những bài tập Yoga thực hành. Phong cách đó là phải giữ mình không vội vàng, không hối hả, mà thật thong thả trong một trạng thái tinh thần thung dung. Phải biết hoàn thành một cách chậm rãi, mềm mại, liên tục sự căng giãn cơ bắp, tiệm cận với giới hạn của năng lực bản thân vốn là yêu cầu của việc thực hiện mỗi asana (tư thế). Như thế ta sẽ ngày càng đẩy lùi được những giới hạn của tính đàn hồi cơ bắp. Nói cách khác, mỗi người ở bất kỳ lứa tuổi nào, đều có thể trở thành mềm mại ngoài sức tưởng tượng. Mặt khác, phải thường xuyên làm quen đến mức biến thành của mình cái ý nghĩ rằng, điều quan trọng là bản thân sự luyện tập chứ không phải là kết quả luyện tập. Hãy gạt bỏ mọi kiểu “quyết tâm”, quyết tâm đạt được kết quả, quyết tâm nhanh chóng thu hoạch được cái gì đó khác biệt. Ở Yoga không có cạnh tranh, không có ganh đua, với người đã đành và ngay cả với chính bản thâ mình. Một lần nữa ta gặp lại một nguyên lý khác của Dịch học: “bất tranh nhi thiện thắng”. Yoga là trường học tuyệt vời của đức kiên nhẫn và tự chủ, nó giúp ta từ bỏ mọi tinh thần, thái độ thù địch với mình, ngạo mạn với người.
hatha yoga
Các asana được thực hiện tối thiểu sau bữa ăn 2 tiếng, và phải được thực hiện một cách thoải mái, điềm đạm và đồng bộ với phép thở điều hòa, có nhịp điệu và tập trung chú ý. Đừng bao giờ để xảy ra tình trạng trong khi thân thể ta được kìm giữ trong một asana thì đầu óc ta lại phiêu du đây đó cho ..đỡ buồn, cho khỏi nóng lòng, sốt ruột. Nói cách khác, ta không được phép trở thành người máy ở bất kỳ lúc nào, dù trong khi tập, cái đó đã đành, mà ngay cả trong mọi sinh hoạt hàng ngày. Ta phải luôn luôn học làm con người mà mỗi lời nói, mỗi hành vi và suy nghĩ đều có ý thức, có cân nhắc, chứ không phải chỉ là phản xạ máy móc của những thói quen đã được huấn lập. Một khi ta đã hiểu và phải hiểu rằng Yoga là phép đặt thể xác dưới cái ách khống chế của tinh thần, là buộc tất cả cách hành vi, các hoạt động các biểu thị sống của thân xác đều phải diễn ra và chỉ diễn ra dưới con mắt giám sát, theo dõi sát sao của ý thức thì người tập Yoga, ngay trong đời sống hàng ngày, vào bất kỳ lúc nào, trong bất kỳ công việc gì, đều không thể hành xử như mấy người đan len, tay thoăn thoắt kim đan, miệng liến láu mọi chuyện công, tư, hay dở. Ngay trong buổi đầu tập Yoga hãy cố gắng chú tâm vào mọi động tác bình thường nhất, như đi, như đứng, như nói, như bổ củi, như nhặt rau, như uống nước…Làm được như vậy là ta đã tạo được điều kiện, được khả năng để dễ dàng đi vào thực hành phép tập samyama sau này, một phép tập quan yếu nhất của Raja Yoga với những hiệu quả hùng vĩ nhất trên bất kỳ phương diện nào. Làm được như vậy tức là ta đã triển khai phép tập samyama ra ngoài thời khóa chuyên tập, đem trạng thái của samyama thấm đượm vào mọi biểu thị của sự sống. Để làm được như vậy-vì làm như thế không dễ như ta tưởng đâu, vì ta sinh ra vốn đã mang sẵn cái tâm không ở yên đâu được đến một phút mà hiếu động như con khỉ trên cây, như con ngựa dưới bãi- thì trong mỗi thao tác hàng ngày, như cầm cốc lên uống nước, như bước chân lên thềm nhà, ta hãy dừng lại trong giây lát giữa chừng để tự nhắc mình là ta đang làm việc đó và ta phải chú hết tâm ý vào việc đó, ta hãy dừng lại như thể ta bị đông cứng đột ngột giữa dòng chuyển động. Hãy hữu thức hóa mọi hoạt động của ta, hãy đồng bộ hóa mọi hoạt động của ta với ý thức tương ứng.

Trong mọi hoạt động sống thì ăn và thở là thường xuyên nhất, quan trọng nhất. Trước hết ta hãy xem xét phong cách ăn của hành giả Yogin.

Đừng vội sợ rằng phép tập Yoga buộc ta phải chay tịnh ngay từ đầu, phải từ bỏ cái thú nhất trong tứ khoái. Không! Hay đúng hơn, chưa phải vậy đâu. Bạn thích thịt cá ư? Xin cứ tiếp tục! Bạn quen rau dưa thanh đạm ư? Càng tốt thôi! Bạn là môn đồ trung thành của Osawa ư? Thực tuyệt vời, không còn gì bằng! Nhưng ta không bàn tới chế độ ăn, mà là cách ăn. Phong cách ăn của hành giả Yogin là ta phải biến mỗi bữa ăn của ta thành một nghi lễ tôn nghiêm. Như vậy, trước hết có nghĩa là phải giữ yên lặng trong khi ăn, không trò chuyện, cười đùa, không mắng chửi vợ con. Hai là phải chú ý và chỉ chú ý vào các động tác cần làm trong khi ăn như sới, gắp và nhai, ngoài ra không để tâm trí chạy theo đối tượng nào khác, không nghe nhạc, không đọc báo, không xem tivi. Ba là phải giữ một nhịp độ ăn thật thong thả, thật chậm rãi; điều này không có một tí gì liên hệ với kiểu nhậu nhẹt lai rai, mà trước hết và sau hết chỉ có nghĩa là ta phải nhai thật lâu, thật kỹ , từ 100 tới 200 lần nhai với mỗi miếng ăn, sau đó dừng lại chừng 30 giây trước khi “uống” cái miếng ăn đã nhuyễn thành một thứ cháo loãng ấy. “Uống cơm nhai sữa” hay “nhai đồ uống, uống đồ ăn” là phương châm ẩm thực của mọi phép dưỡng sinh, không riêng gì Yoga. Thực hiện đúng được phong cách ăn này thì một nửa khẩu phần ta vẫn dùng hàng ngày cũng đủ để cho hiệu quả lớn hơn trước kia, và ta cũng sẽ khỏi phải cần tới các thứ thịt cá, đường, sữa, hoa quả, với đủ các kiểu lý luận uyên bác thông thái của khoa học mà ta thường kính cẩn tín ngưỡng về hàm lượng calo cần thiết cho hoạt động sống; vì các nhà tư tưởng Yoga cũng như nhiều nhà y học Đông Phương vẫn cho rằng con người bản chất nó là một sinh vật ăn hạt chứ không phải sinh vật ăn thịt cá hoặc rau quả. Luận điểm này đúng hay sai, có thể tìm thấy câu trả lời chỉ ở một vấn đề, thí dụ hiệu quả của phép ăn “gạo lức muối mè” của Osawa là thực hay là hư? Dĩ nhiên ta có thể đồng ý rằng ăn như vậy là tốt cho sức khỏe, cho sự sống, cho trị liệu v..v..Nhưng…phải cái ăn như thế quá ngán, không nuốt nổi, nhất là khi ngày nào, bữa nào cũng chỉ dọn ra độc món “gạo lức muối mè”. Dĩ nhiên quan điểm cho rằng “ăn như thế thì sống làm quái gì nữa” hoàn toàn có quyền tồn tại, cũng như những người chủ trương “ăn để thưởng thức, chứ không phải chỉ nhằm mục đích duy nhất là duy trì sự sống” cũng hoàn toàn phải được tự do ăn và sống để ăn theo lập trường của họ mà khỏi bị ai phê phán hay lên lớp. Nhưng ở đây không phải là chỗ ta bàn tới vấn đề “ăn để sống” hay “sống để ăn”, cũng không phải ăn như thế nào để được sống khỏe, sống lâu, mà chỉ nghiên cứu về Yoga, và nói riêng một khía cạnh: sự tiếp cận với Yoga trên bình diện ẩm thực. Và nếu ta thực sự muốn tập Yoga thì ta không thể không thấm nhuần cái yếu chỉ của nó, yếu chỉ ấy tuyệt đối trái ngược với khuynh hướng “tự nhiên” của con người là tìm kiếm sự khoái lạc, sự êm ái, sự dễ chịu cho thân xác, cho ngũ quan. Phong cách ăn của hành giả Yoga đã trình bày ở trên đúng là tự nó đã không thú vị gì, lại đòi hỏi quá nhiều chăm chú, quá đơn điệu, quá mệt học, quá nhàm chán, nhưng éo le thay, chính vì thế mà lại thấm đượm cái tinh thần, cái yếu chỉ của Yoga.

Ta cũng gặp lại chính điều này trong phép thở Yoga. Thở là hoạt động quan trọng số một, thiết yếu số một của sự sống, vận hành một cách tự động, nghĩa là dưới sự điều khiển của hệ thần kinh thực vật, nhưng đồng thời ngay lập tức cũng sẽ hoạt động nhanh, chậm, mạnh, yếu, ngắn, dài theo lệnh của ý thức mỗi khi ta muốn hoặc chợt nghĩ đến nó. Cũng như bản thân sự thở đối với sự sống, phép thở Yoga đóng vai trò cao nhất, lớn nhất trong phép tập Hatha Yoga. Đã gọi là tập, nhất là tập Yoga thì phải không một giây nào được buông lơi chú ý, do đó phép thở Yoga phải tiến hành và chỉ tiến hành dưới sự chỉ huy, giám sát sát sao và không ngừng nghỉ của ý thức. Nó phải trở thành một nghĩ lễ “tôn giáo” nhằm tiêu trừ con ma máy móc, vô thức của hoạt động bản năng, do đó nhằm vươn tới quyền uy vạn năng của tâm thức, hình thái ý niệm thế tục của Tự Do Tuyệt Đối hay Giải Thoát, vốn là mục đích tối thượng của mọi pháp môn Yoga. Ta phải tập để có thói quen mỗi phút, mỗi giây tự nhắc nhở ta là phải theo dõi, phải bám sát, phải điều khiển sự thở của ta. Dần dà ta sẽ thấy rằng sự thở của ta mất đi tính máy móc, tự động, để thở thành hoàn toàn hữu thức. Đừng sợ rằng các công việc thường nhật sẽ ngăn cản ta nhận thức sự thở của ta. Chỉ sau một thời gian rèn luyện nào đó ta sẽ thấy ta vẫn nhận thức sự thở, ta vẫn điều hành nó bằng ý thức, đồng thời ta vẫn làm các việc khác như quét nhà, như thổi cơm, như đọc sách. Trong môn Aikido, một vũ thuật của người Nhật, các võ sĩ được nhắc nhở phải luôn luôn nghĩ tới điểm duy nhất nơi bụng dưới” (seika-no-itten) tức đan điền, và điều này không ngăn cản gì các hoạt động khác, ngay cả trong lúc giao đấu. Trong lịch sử, chúng ta cũng biết rằng có những nhân vật như Napoléon hoặc Bàng Thống có thể cùng một lúc làm nhiều việc khác nhau như tai nghe báo cáo việc này, miệng ra chỉ thị việc nọ, tay viết công văn việc kia. Theo lý luận Yoga, mọi người đều y hệt như nhau, ngay cả các thần thánh cũng mang cùng một tố chất như mọi kẻ ngu phu ngu phụ bất kỳ. Vậy thì tài năng vĩ đại của Napoléon hay Bàng Thống chẳng qua chỉ là khả năng tiềm ẩn trong chúng ta. Nói cụ thể, trong thực hành phép thở Yoga ta phải chú ý, phải theo dõi nhịp độ và lộ trình của hơi thở.

Phép thở Yoga gồm 4 thì: hít vào, giữ hơi, thở ra, nín hơi. Hoặc 3 thì: hít vào, giữ hơi, thở ra hay: hít vào, thở ra, nín hít. Bốn thì ấy phân bố theo nhịp độ 1-4-2-4 tức là thời gian giữ hơi và nín hơi dài bằng bốn lần thời gian hít vào. Tất nhiên rất khó thực hiện được nhịp độ thở này ngay lúc mới bắt đầu tập. Mặt khác phương châm của Yoga là thoải mái, là dung dị, là tương hợp với tính đặc thù cá nhân, tránh khiên cưỡng, tránh nóng vội, tránh hiếu thắng, cho nên bước đầu, trong khi tập thở bốn thì hoặc 3 thì, mỗi người hãy tự tìm cho mình một nhịp độ thỏa đáng, phù hợp với cơ địa của mình. Nó không đòi hỏi một sự cố gắng quá căng, đồng thời dĩ nhiên cũng không quá dễ dãi, tùy tiện đến mức chẳng còn gì đáng gọi là tập. Có thể bước đầu tập theo nhịp độ 1-2-2-2 hoặc 1-1-2-1, hoặc 1-1-1-1 rồi nâng lên dần cho tới nhịp độ chuẩn: 1-4-2-4.

X