Cơ sở duy nhất, phổ biến và rắn chắc của mọi tri thức là sư nhận biết trực tiếp (perception directe). Từ quan sát cái cá biệt ta tới trướctri thức qua con đường khái quát. Yoga cung cấp cho ta những phương tiện, những công cụ để quan sát các trạng thái nội tâm, phương tiện ấy chính lại là bản thân tâm thức.

Giống như những tia sáng phân kỳ, một khi được hội tụ lại sẽ soi rõ hơn, các năng lực tinh thần một khi được hướng dẫn, được điều khiển thích đáng về hướng nội tâm, có thể phân tích tinh thần và soi sáng các sự kiện. Xoay hướng tinh thần về phía nội tâm thay vì để nó bị thu hut về phía ngoại giới, tập trung và phóng xuất tất cả năng lượng của nó lên chính nó để nó học biết được cái bản chất đặc hữu của nó, phát hiện được cái bí mật thầm kín hất, xâu xa nhất, ẩn dấu nhất của nó. Giống như những tia rọi chiếu của mặt trời soi tỏ những ngóc ngách tối tăm nhất, khuất khúc nhất, ẩn kín nhất. Khi ấy ta sẽ tự mình kiến nhận có linh hồn không? Có Thượng Đế không? Yoga dạy ta cách tập trung tư tưởng, cách thẩm thấu vào những địa tần sâu kín nhất của chính tâm thức ta, cách khái quá những gì ta thấy ở đó và tự rút ra kết luận cần thiết. Chúng ta sẽ tự mình tri giác, tự mình thể nghiệm, tự mình kiến nhận chân lý, không có ai hết có thể thay ta làm việc đó.
tư tưởng của yoga
Mọi người đều biết rằng thể xác và tinh thần tác động lên nhau trong một quan hệ tương hỗ. Lý thuyết Yoga cho rằng phần lớn nhân loại không vượt lên trên tính động vật của họ được bao nhiêu. Tinh thần của họ được phát triển quá ít và phụ thuộc vào thể xác quá nhiều. Muốn đảo ngược tình thế đó cần phải biết đặt thể xác dưới cái ách chế ngự của tinh thần. Yoga chủ yếu dạy ta qua các tư thế (asana), qua cách thở (Pranayama) và nhất là sự tập trung tư tưởng (Samyama) lên một vật thể, một hình tượng, một ý niệm hoặc lên chính bản thân tư tưởng. Điều này nhiều khi chính ta đã làm được mà không biết. Ai cũng từng có lúc vì mải mê suy nghĩ một điều gì đến nỗi mắt vẫn mở mà không nhìn thấy gì, tai vẫn rỏng và không nghe thấy gì, thân vẫn tiếp xúc mà không cảm thấy gì, nghĩa là sự tập trung tư tưởng đủ cao đã vô hiệu hóa các hoạt động của giác quan, của thân xác, đã ngăn chặn các tác động, các thông tin của thế giới bên ngoài tiếp xúc với thế giới bên trong, với tinh thần đang hoạt động trên một hướng nào đó. Tự thân các phương pháp Yoga cũng đã là những yêu cầu khổ hạnh rồi. Không thể nói gì đến sự thống trị của tinh thần đối với thể xác, đến sự luyện tập Yoga nếu ta luôn luôn tự chiều mình mà buông thả mình theo những thèm muốn, đòi hỏi của thân xác. Sự khổ hạnh ấy chẳng qua mới chỉ là bước nhập môn đi vào thoát ly hay vô – trụ, tức là không an- trụ, không đặt để, không chấp trước, không gắn bó không gần gũi, không thân thiết ta với bất kỳ một vật gì hay một điều gì.

Làm như vậy có trái tự nhiên không? Ta cần phải quan niệm rằng tự nhiên thị hiện trên nhiều bình diện khác nhau, trên nhiều cấp độ khác nhau. Cái mà ta tưởng là tự nhiên chỉ là tự nhiên của tính động vật, là cơ chế thị hiện của một yếu tố trong những yếu tố cấu thành con người- yếu tố thú vật. Nếu con người chỉ hoàn toàn cấu thành bởi yếu tố này thôi thì con người cũng hết là con người, ngang hàng với bất kỳ con vật nào khác.

Nhưng ai cũng biết rằng, còn một yếu tố nữa, yếu tố “người” đặc hữu của con người, mà toàn bộ lịch sử văn minh nhân loại chỉ là những bước leo thang nhằm chiếm hữu, nhằm chinh phục từng phần. Chỉ cần quan sát phong cách và thái độ của con lợn đói, sục mõm vào trong máng cám và của một con người, cho dù thuộc loại phàm phu tục tử nhất, bưng bát lên ăn là cũng thấy rõ ngay tính người phân biệt với tính thú như thế nào trong cùng một hoạt động cho nhu cầu bản năng. Tuy nhiên về mặt khái quát thì trạng thái cảm nhận khoái lạc của một con ruồi đậu trên đống nhơ, của một con quạ rỉa mỏ vào xác chết hay một bậc vương giả ngồi trước một bàn tiệc đầy vây yến cầu kỳ đều cùng một chủng loại. Trái lại cái lạc thú của một họa sĩ trước một cảnh đẹp, một nhạc sĩ nghe một giai điệu hay, một học giả trước trang sách lạ, cái lạc thú ấy không hề và không thể được chia sẻ bởi bất kỳ một loài vật nào khác. Cao hơn nữa là trạng thái Niết Bàn của người nhập đại định. Cho nên chỉ có một tiêu chuẩn khẳng định sự phân loại: con vật tìm khoái lạc trong thỏa mãn xác thân, con người trong đời sống tinh thần, bậc siêu phàm trong tham thiền nhập định. Cho nên nếu Yoga có mâu thuẫn, có phá hủy tính “tự nhiên” của bản chất con người thì tính “tự nhiên” ấy chỉ là khía cạnh thú vật của bản chất ấy.

Ý nghĩa này càng rõ ràng hơn, càng sâu sắc hơn khi ngược dòng thời gian ta biết rằng Yoga bắt nguồn từ tôn giáo thờ thần Siva (Shiva), biểu trưng cho mặt phá hoại, mặt hủy diệt, cái đi trước tất yếu của sự sáng tạo, trong tam vị nhất thể của Bà La Môn giáo. Do đó cũng có thể xem Yoga là một môn nhân học đúng nghĩa nhất bởi vì nó đã biết lấy làm đối tượng duy nhất tìm hiểu, nâng lên địa vị thống soái trong mọi biểu hiện sống của con người, cái bản chất đặc thù, cái tính cách khu biệt của con người, đó là tư duy, là ý thức vốn là hình thái dễ nắm bắt nhất, thị hiện rõ nhất chỉ ở nơi con người của tâm thức, của tinh thần, của linh hồn Purusha.

Tăng cường sự khống chế của tinh thần đối với thể xác, là xương sống, là miếng đất thao dượt của bất kỳ cách tu luyện nào trong bất kỳ pháp môn Yoga nào. Phép tập Yoga sẽ đưa ta đến chỗ kiến nhận bản chất của tâm linh, rồi sẽ đặt con người trực diện với cái gì đó bất khả hủy diệt, cái gì đó hết sức trong trẻo, toàn thiện, toàn mỹ một cách tuyệt đối và vĩnh hằng, và một khi đã thấy như vậy ta làm gì còn có đau khổ, còn có sợ hãi. Sống mà không còn phải sợ hãi, không còn bị đau khổ thì đó không đáng là mục đích của cuộc sống hay sao? Không đáng để cho ta quan tâm và theo đuổi hay sao? Có điều, sự thực có phải như thế không? Có đúng như thế không? Có được như thế không? Một lần nữa xin nhắc lại. Yoga không buộc ta phải tin, không thuyết phục ta bằng lý lẽ, chỉ nhẹ nhàng mời ta hãy thử thực hành các phương pháp tập luyện của nó. Phải nói ngay rằng, như trên đã đề cập, có những yêu cầu khắt khe, gian khổ. Với những ai nghĩ rằng “đời người như bóng câu qua cửa sổ”, mà nội dung chỉ là ăn uống, làm tình và ngủ nghỉ, chỉ là quyền lực và danh vọng, thì dĩ nhiên rồi, Yoga chẳng có gì để trao đổi, mạn đàm với họ. Và chẳng riêng gì Yoga, cả khoa học và nghệ thuật, cả văn học và âm nhạc, chỉ còn là những chuyện hão huyền, phù phiếm. Còn những ai “người” hơn một chút, cho rằng có thể qua phép tập Yoga ta sẽ khám phá ra “có lắm điều hay”, nhưng phải hy sinh nhiều thứ quá, kiêng kem nhiều thứ quá. vả lại cũng chẳng cần thiết! Cũng không cần thiết thật so với cái hiện thực sống động của thân xác sinh hoạt trong cộng đồng. Trong trường hợp này môn Yoga cũng chỉ biết thở dài mà chia tay. Còn làm gì được nữa với cái vô minh, cái căn nghiệp của con người trải dài trên mười hai nhân duyên.

Mặt khác, sự hiểu biết và từ đó điều khiển được tinh thần, tức là tự nhiên bên trong, ta sẽ làm chủ được cả tự nhiên bên ngoài. Lập luận này có vẻ trái ngược với vật lý học chủ trương rằng, chỉ qua sự hiểu biết quy luật vận hành và cơ cấu của giới hiện tượng, giới tự nhiên ta mới điều khiển được, làm chủ được tự nhiên bên ngoài tức là thế giới vật chất, từ đó cả tự nhiên bên trong, tức là thế giới thinh thần. Thực ra “mọi con đường đều dẫn tới La Mã”, đẩy đến cùng cả hai lý thuyết này đều đúng cả, vì tự nhiên đâu có phân biệt trong với ngoài. Nhà vật lý khi suy luận triệt để sẽ thấy học thuật của mình trở thành siêu hình học, y hệt như nhà siêu hình học khi đi đến cực điểm sẽ nhận ra giữa cái ta quen gọi là vật chất và cái ta quen gọi là tinh thần, chỉ là sự phân biệt biểu kiến, hoàn toàn giả ngụy. Thực tế chỉ là Một và chỉ có Một. Đó là gì thì ta sẽ đề cập tới trong phần Raja-Yoga.

Theo mẫu hình hoạt động và tương ứng với những khía cạnh đặc thù của bản chất nhân tính nhìn nhận dưới các giác độ thân xác, tình cảm, trí năng, xã hội tín ngưỡng, tâm linh, mà có các pháp môn Yoga khác nhau, là những nấc kế tiếp, với nấc thấp nhất Hatha – Yoga và nấc cao nhất Raja – Yoga trên cây thang đưa lên mục tiêu tối hậu: SỰ GIẢI THOÁT.

X